Wednesday, February 25, 2009

Tiền đồn chiều nhớ em.




Huế chừ có lạnh không em ?
Gió từ bên nớ từng đêm thổi về
Anh còn biên trấn sơn khê
Mùa xuân nghe lạnh nẻo về nhớ ai
Bên ni không có hoa mai
Hoa sim rừng tím đường dài gót chân
Nhìn đồi xa nhớ Hải Vân
Như trong xa vắng bao lần nhớ nhau
Thuyền em qua bến Vân Lâu
Sông Hương một thuở bên cầu tiển đưa
Đông Ba phiên chợ chiều mưa
Em qua Vỹ Dạ sớm trưa ai chờ
Anh tiền đồn vắng bơ vơ
Nhớ em và Huế ngẩn ngơ nổi sầu
Đời chinh chiến biết về đâu
Tình xa bến mộng ban đầu nhớ thương

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Saturday, February 21, 2009

Thường Đức


Trận Thường Đức, cuộc thư hùng Nam-Bắc cuối cùng
Tuesday, February 17, 2009

Xuân Kỷ Sửu 2009, nhớ đến những hy sinh không bờ bến của Quân Lực
Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do trước 1975:

Trận Thường Ðức, cuộc thư hùng Nam-Bắc cuối cùng

Vann Phan

* Dẫn nhập
Mặc dù trận đánh tại Thường Ðức (từ ngày 15 Tháng Tám đến ngày 8 Tháng Mười Một năm 1974), cũng như trận Long Khánh hồi Tháng Tư năm 1975, không phải là trận đánh sau hết trong Chiến Tranh Việt Nam, nhưng đây phải được coi là cuộc đọ sức cuối cùng trong số hằng trăm, hằng nghìn trận thư hùng lớn, nhỏ của quân đội hai miền Nam-Bắc, một trận Ðiện Biên Phủ khác trên chiến trường Việt Nam mà kẻ chiến thắng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Có nhiều lý do dẫn tới nhận định trên.

Lý do thứ nhất là mức độ dữ dội của trận đánh tại Thường Ðức khi chưa bao giờ có đông đến như thế các lực lượng tham chiến và hỏa lực tập trung của cả hai bên trên một chiến trường nhỏ hẹp chỉ gồm có ngọn Ðồi 1062 và các đồi phụ chung quanh với cao điểm trận đánh kéo dài chưa đầy một tháng. Lý do thứ hai là trận đánh này, dù mức độ ác liệt chỉ thua sút có trận Cổ Thành Quảng Trị và trận An Lộc, lại không được nhiều người biết đến do địa thế hẻo lánh của vùng giao tranh (giáp giới với vùng Hạ Lào) và do tình hình chính trị vào những ngày cuối của cuộc Chiến Tranh Việt Nam quá sôi động khiến báo chí Tây phương, vốn rất ồn ào, không đưa tin đúng mức vì họ không kịp hiểu hết tầm mức quan trọng của trận đánh mang ý nghĩa của một “cuộc thăm dò khả năng chiến đấu một mình” của quân đội miền Nam Việt Nam chống lại các lực lượng Cộng Sản sau khi quân chiến đấu Hoa Kỳ đã rút về nước. Lý do thứ ba là số lượng cao của các lực lượng tinh nhuệ tham chiến: Quân Ðội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt có Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên cùng Sư Ðoàn 324B và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có Sư Ðoàn Nhảy Dù. Lý do thứ tư là cán cân thăng bằng về hỏa lực và nhân sự giữa đôi bên coi như đã được tái lập sau khi sau khi các lực lượng chiến đấu của Hoa Kỳ đã thực sự rút lui khỏi chiến trường, đem theo luôn sức yểm trợ mạnh mẽ của máy bay oanh tạc và hải pháo của Không Quân, Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong khi, về mặt súng nặng, quân Bắc Việt đã đưa vào sử dụng một số trọng pháo tân tiến chưa thấy dùng trong Mùa Hè Ðỏ Lửa cách đó hơn hai năm. (Yếu tố này được đề cập tới để các nhà viết quân sử không còn lý do nào để bảo rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có ưu thế về hỏa lực trong mọi trận đánh so với Quân Ðội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt.)

Lý do sau cùng là lòng quyết chiến, quyết thắng của cả đôi bên trong trận đánh khi Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên, sau khi đã chiếm được quận lỵ Thường Ðức và ngọn Ðồi 1062, một cao điểm chiến lược cực kỳ hung hiểm, chính thức thách đấu vời Sư Ðoàn Nhảy Dù để phân định cao thấp trong một trận đánh mà từ thời điểm cho tới chiến trường đều do họ chọn lựa. Một số tài liệu về trận đánh này cho biết chính Cộng quân đã dùng giàn thun bắn thư rơi khiêu chiến, “thách ‘Ngụy’ Dù lên đánh.” Phải biết rằng phe Cộng Sản vẫn hết sức ấm ức khi đành chấp nhận thảm bại trong trận chiến Cổ Thành Quảng Trị hồi Mùa Hè năm 1972 sau khi bị các lực lượng Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có sự yểm trợ của hỏa lực hùng hậu của Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân Hoa Kỳ, đánh cho tan tác, để rồi các lực lượng “Bộ đội Cụ Hồ” tinh nhuệ dưới quyền Tướng Võ Nguyên Giáp tham chiến đành phải rút lui “không còn manh giáp.” (1)

Với các lý do được kể ra ở trên, chiến thắng của các lực lượng Nhảy Dù trước quân Cộng Sản phải được coi là hết sức oanh liệt và dứt khoát. Sau gần ba tháng trời, trận đánh kết thúc với việc các lực lượng Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa -dưới quyền chỉ huy tổng quát của các tướng Ngô Quang Trưởng và Lê Quang Lưỡng-tiêu diệt gần như toàn bộ các lực lượng tham chiến của Cộng Sản Bắc Việt bên trong và chung quanh ngọn đồi chiến lược 1062, khẳng định trước các nhà viết quân sử thế giới tính ưu việt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa so với Quân Ðội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt. (2)

Bài viết này được thực hiện, phần lớn, dựa trên tài liệu nhan đề “33 Năm Nhớ Về Mặt Trận Thường Ðức” của Ðại Úy Võ Trung Tín và Ðại Úy Nguyễn Hữu Viên, cả hai đều là sĩ quan chỉ huy Nhảy Dù, và đã được phổ biến rộng rãi trên mạng lưới điện toán từ Tháng Mười Một năm 2008.

* Bối cảnh chiến trận
Trong phần nhận định tổng quát về bối cảnh cuộc chiến, các tác giả viết:

“Sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết vào cuối Tháng Giêng, 1973, tình hình chiến cuộc Việt Nam tạm lắng dịu... Vào những tháng cuối năm 1974, sau khi trao đổi tù binh với Hoa Kỳ xong xuôi, [Cộng Sản] Bắc Việt không ngần ngại bắt đầu vi phạm Hiệp Ðịnh Ba Lê để thực hiện ý đồ xâm lăng thôn tính miền Nam bằng võ lực... Song song với việc Cộng Sản Bắc Việt mở mặt trận lớn đầu tiên tại Vùng 1 Chiến Thuật với ý đồ cầm chân các đơn vị tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đồng thời ào ạt di chuyển bộ đội trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh vào các Quân Khu 2 và 3, hai Sư Ðoàn 304 và 324B Bắc Việt, cùng các trung đoàn pháo, chiến xa bất thần đánh chiếm quận Thường Ðức thuộc tỉnh Quảng Nam là một điểm chiến lược nhờ địa thế núi rừng hiểm trở...

“Ðịa hình Thường Ðức rất hiểm yếu, ba bề là núi cao, có nhiều dốc dựng đứng. Phía Ðông bằng phẳng, từ quận Ðiện Bàn trên giao điểm Quốc Lộ 1, Liên Tỉnh Lộ 4 chạy dọc theo Sông Vu Gia dẫn vào Thường Ðức nằm ngay ngã tư Liên Tỉnh Lộ 4 và Quốc Lộ 14 và cũng là nơi hợp lưu của hai con Sông Côn và Sông Vu Gia nước sâu, chạy dài từ Tây sang Ðông. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho thành lập quận này nhằm cắt đứt con đường 14, không cho Cộng quân sử dụng để di chuyển vào Nam...”

Nói đến các động lực dẫn đến việc Cộng Sản Bắc Việt xua quân lấn chiếm Chi Khu Thường Ðức và việc Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1 Vùng I Chiến Thuật, giao cho Sư Ðoàn Nhảy Dù trọng trách tái chiếm quận này, các tác giả viết:

“Về mặt chiến lược, Thường Ðức là một vị trí quan trọng xuất phát các cuộc hành quân trinh sát [của các lực lượng Việt Nam Cộng Hòa], khống chế con đường tiếp liệu Trường Sơn Ðông mà Cộng Sản Bắc Việt vừa mới khai dựng sau ngày ký hiệp định 27 Tháng Giêng 1973. Từ phía Bắc quân dụng và chiến cụ theo đường mòn Hồ Chí Minh đưa từ A Lưới đến A-Shau qua Trào đến Bến Giàng nằm trên Liên Tỉnh Lộ 4 cách Thường Ðức không xa. Tại đây quân CSBV có những kho lẳm tồn trữ quân dụng tiếp tế cho mặt trận Quân Khu Năm.

Về chính trị, với việc chiếm đóng Thường Ðức, Hà Nội có thể đánh giá được phản ứng của Hoa Kỳ và khả năng viện trợ quân sự cho Sàigòn. Về quân sự, Hà Nội có thể đánh giá khả năng phản kích, cơ động và hỏa lực yểm trợ chủ lực VNCH ở Quân Khu 1, đặc biệt là các lực lượng tổng trừ bị cơ động chiến lược (Nhảy Dù).

“Ðối với Việt Nam Cộng Hòa, trận chiến Thường Ðức đánh dấu việc vi phạm ngưng bắn của CSBV đã đến một mức độ nghiêm trọng mới. Thường Ðức trở thành quận lỵ đầu tiên của VNCH rơi vào tay Cộng Sản sau ngày ngưng bắn. Ðai Lộc và Ðà Nẵng [nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Vùng 1 Chiến Thuật] sẽ bị đe dọa nghiêm trọng từ hướng Tây chỉ cách thung lũng sông Vu Gia.”

Cac tác giả liệt kê lực lượng địch và bạn tham chiến như sau:

Lực lượng địch tham chiến gồm có:

Sư Ðoàn 324B gồm các Trung Ðoàn 29, Trung Ðoàn 6 và Trung Ðoàn 803 di chuyển từ phía Tây tỉnh Quảng Trị xuống tỉnh Quảng Nam; Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên, Tư lệnh là Trương Công Phê, chính ủy là Trần Bình chỉ huy trực tiếp trận chiến, gồm 3 trung đoàn 66, 24 và 36 vừa tham gia trận đánh chiếm căn cứ Dak Pek ở phía Bắc tỉnh Kontum vào giữa Tháng Năm đã bí mật di chuyển vào khu vực Thường Ðức; Trung Ðoàn 31 thuộc Sư Ðoàn 2 CSBV tăng viện vào lúc cuối trận chiến; 2 Tiểu đoàn bộ đội địa phương Quảng Ðà; Một Trung đoàn Pháo và Trung đoàn Chiến Xa...

(Các tác giả cũng ghi nhận rằng, về mặt súng nặng, các lực lượng Cộng Sản Bắc Việt đã đưa vào sử dụng loại súng cối 160 ly có sức công phá lớn, ngoài các loại vũ khí nặng khác mà họ từng sử dụng trong trận chiến như hỏa tiễn 122 ly, sơn pháo 130 ly, pháo 105 ly, pháo 85 ly, cối 82 ly và cối 61 ly.)

Lực lượng bạn:

“Tiểu Ðoàn 79 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng; Hai Ðại đội Ðịa Phương Quân; Một Ðại Ðội Cảnh Sát Dã Chiến; Một Trung Ðội Viễn Thám; 16 Trung Ðội Nghĩa Quân; Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn Văn Ðỉnh làm Lữ Ðoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Ðoàn 1, 8, 9 Nhảy Dù và Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh Nhảy Dù; Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù do Trung Tá Lê Văn Phát làm Lữ Ðoàn Trưởng gồm 3 Tiểu Ðoàn 2, 3, 6 Nhảy Dù và Tiểu Ðoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù.

* Một số diễn tiến đáng chú ý trong trận Thường Ðức

Về diễn tiến các cuộc giao tranh vô cùng ác liệt trong trận Thường Ðức, nhất là trận đánh để tái chiếm Ðồi 1062 đã lọt vào tay Cộng Quân sau khi họ tràn ngập Chi Khu Thượng Ðức ngày 7 Tháng Tám năm 1974, xin trích dẫn một đoạn tiêu biểu trong bài viết của hai tác giả Võ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên:

Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù tấn công 1062:

“Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù quyết định đột kích đêm và lợi dụng gió Ðông làm một trận hỏa công. Lực lượng xung kích gồm 2 Trung Ðội với Thiếu Úy Lê Văn Bá chỉ huy một Trung Ðội thuộc Ðại Ðội 14 và Thiếu Úy Trần Thanh Quang chỉ huy một Trung Ðội của Ðại Ðội 11... Ðại Ðội 11 làm thành phần trừ bị sẵn sàng tiếp ứng kịp thời cho lực lượng tấn công... Hỏa lực yểm trợ gồm súng cối 60 ly và 81 ly đã được chuẩn bị yếu tố tác xạ sẵn sàng.”

“Sáu giờ chiều, ánh sáng mặt trời trong rừng già đã tắt hẳn. Hai Trung Ðội bắt đầu xuất phát. Thiếu Úy Quang dẫn trung đội đi bên trái, trung đội Thiếu Úy Bá bên phải. Họ giữ đội hình đi song song và cách nhau khoảng từ 30 đến 40 thước. Pháo binh 105 ly của ta vẫn đều đều bắn cắm chỉ trên mục tiêu để địch lo trốn trong hầm, không ngóc đầu lên quan sát quân ta đang di chuyển. Một giờ, hai giờ, rồi ba giờ trôi qua...”

“Bỗng nghe một loạt đạn nổ bên phải rồi im lặng. Pháo binh [ta] ngưng tác xa, hai cánh quân vừa bắn vừa hô xung phong vang rền cả núi rừng hoang vu. Lửa bắt đầu cháy trên mục tiêu, nhiều nhất là bên cành Thiếu Úy Quang. Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù xin Pháo Binh chuyển tác xạ về hướng Tây để bắn chận quân địch. Tiếng của Quang vang trong máy:

- Chiếm được đỉnh rồi, đích thân! Hầm quá nhiều và kiên cố, làm toàn bằng cây to. Mấy đứa con đang bung rộng chờ cánh quân bên phải!”

“Trời tối đen như mực, vẫn chưa liên lạc được Thiếu Úy Bá. Mười lăm phút sau, Thiếu Tá Quý đứng dưới mục tiêu C thấy trên D có từng cụm lửa lóe lên chen lẫn trận địa pháo bằng súng cối sôn pháo 120 ly của địch.

Tiếng của Quang vang lên trong máy:

- Chúng pháo dữ dội quá, đích thân, nhưng hầm hố kiên cố, không sao!”

“Rồi hàng loạt tiếng đạn AK-47 kêu rít, tiếng Quang hét trong máy:

- Chúng nó phản công, đông lắm! Cho Pháo Binh bắn trên đầu tôi, tụi nó đông như kiến!

Mau lên! Pháo! Pháo mau lên!”

“Ban đêm tời tối, Ðại Ðội 11 trừ bị cho Quang và Bá đang ở lưng đồi yên ngựa. Trung đội Thiếu Úy Bá thì không liên lạc được ngay từ loạt đạn đầu, sau này mới biết được là Bá và 4 binh sĩ đã hy sinh vì mìn Claymore... ngay từ lúc đó.”

“Thiếu Tá Ngô Tùng Châu (Tiểu Ðoàn Trưởng) bảo Quý:

- Nếu thấy không được thì bảo Quang rút về, đừng hy sinh nhiều, ta sẽ tìm cách khác.”

“Nhưng Quang không nghe lệnh (hoặc không thể nghe lệnh!). Hai Trung đội đột kích của Tiểu Ðoàn 1 Nhảy Dù đã gặp sự kháng cự phản công quá mãnh liệt, quân số địch rất đông. Từ đỉnh cao, khe núi, và các địa đạo trong rừng cây ùa ra như đàn ong vỡ tổ! Lính Nhảy Dù rỉa bắn không nghỉ tay. Trước khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu Tá Quý phải kêu Pháo Binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống chết với quân Cộng Sản Bắc Việt. Thiếu Úy Quang đã tập trung đạn của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, còn Quang thì ở lại bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D... Các đạn pháo CVT đã sát hại 10 phần địch và 3 phần quân bạn. Xác địch và ta nằm ngổn ngang trên đỉnh Ðồi 1062. Trung Ðội của Thiếu Úy Quang có 15 chiến sĩ anh dũng hy sinh...”

* Mức độ hy sinh không bờ bến của các chiến sĩ Nhảy Dù

Về những hy sinh to lớn của các chiến sĩ Nhảy Dù tại mặt trận Thường Ðức như sự hy sinh vừa kể của Thiếu Úy Quang và 15 chiến sĩ thuộc Trung Ðội dưới quyền của vị sĩ quan này, các tác giả viết: “'Cái giá' để chiếm được Ðồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến sĩ Dù đã gặp phải từ trước tới nay. Năm tiểu đoàn Dù bị tổn thất nặng, nặng nhất là Tiểu Ðoàn 3 của Thiếu Tá Võ Thanh Ðồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm.

Trong phạm vi của bài viết ngày hôm nay, chỉ xin trích dẫn một vài đoạn tiêu biểu trong bài viết của hai tác giả đã được đề cập tới, nói lên những gai lửa của trận chiến cùng những hy sinh, gian khổ không bút mực nào tả xiết mà các chiến sĩ Nhảy Dù đã cống hiến cho dân chúng miền Nam Việt Nam, chỉ với một mục đích không hề lay chuyển của Sư Ðoàn bách chiến, bách thắng này là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ của miền Nam tự do trước cuộc tấn công xâm lược điên cuồng của Cộng Sản Bắc Việt, có sự yểm trợ tối đa của Cộng Sản Quốc Tế và sự đồng lõa, cố ý cũng có mà vô tình cũng có, của phần còn lại của thế giới hồi các thập niên 1950, 1960 và 1970 trong thế kỷ trước:

“Trước khi gần hết đạn, Quang gọi Thiếu Tá Quý phả kêu Pháo Binh bắn đạn nổ chụp ngay trên đầu thí quân, quyết liều sống chết với Cộng Sản Bắc Việt. Thiếu Úy Quang đã tập trung đạn của các binh sĩ bị thương, bảo họ rút, còn Quang thì ở lại bắn tới hết đạn và anh dũng hy sinh trên mục tiêu D (đã trích dẫn)... Một quả lựu đạn đã rơi trúng nơi trú ẩn của Thiếu Úy Ðoàn Tấn và Chuẩn Úy Ðến thuộc Ðại Ðội 81 khiến hai anh bị thương vong. Lúc quả lựu đạn vừa rơi tới, Thiếu Úy Tấn định nhào lại lấy thân mình che cho đồng đội, nhưng không kịp nữa... Thiếu Tá Vân nghe tiếng Ðại Úy Ðàng hét trong máy xin pháo binh và phi cơ bắn lên đỉnh đồi, vì địch đã tràn ngập! Hai bên phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, nhưng địch nhiều quá, cứ liều chết nhào tới tấn công. Ðại Úy Ðàng và anh em trong đại đội cầm cự, xông xáo, tả xung, hữu đột, người nào trên mình cũng bị nhiều vết thương, áo ướt đầy máu. Ðàng nguyên là cận vệ của Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Ðoàn gọi 3 phi tuần khu trục giội bom napalm xuống đốt cháy sườn đồi. Sau đó, từng đợt pháo binh bắn hỏa tập trợ chiến. Sau khi pháo dứt, những cán binh Bắc Việt lại tràn lên thấy Ðàng bị thương nặng còn ngất ngư vì trúng nhiều mảnh, anh dùng hơi tàn rút súng định tự sát, thì người anh bị ghim như lông nhím. Ðàng ngồi chết trân mà đôi mắt hãy còn trợn trừng không khuất phục... Ðại Ðội 34 của Trung Úy Thư, lên tiếp ứng thì gặp địch tràn tới đánh tơi bời thật hung hiểm vô cùng! Ðịch hô: “Hàng sống, chống chết,” nhưng Thư cứ hăng máu lấy AR-15 quạt và kêu pháo binh bắn đạn nổ chụp lên đầu để cùng chết chung với 5 phần địch 1 phần bạn. Một mình Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù mà phải cầm cự với cả trung đoàn của Sư Ðoàn 304 [Ðiện Biên], địch cho các đơn vị thay phiên tấn công gần một ngày. Các sĩ quan dũng mãnh của Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù như Ðại Úy Phạm Văn Thư, Thiếu Úy Tô Văn Nhị đã gọi pháo binh bắn lên đầu để cùng chết chung với hằng trăm xác địch...”

Về con số các chiến sĩ Nhảy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong chiến dịch kéo dài gần ba tháng trời tại Thường Ðức, thiết tưởng cũng chỉ cần nêu tên một số các sĩ quan ưu tú Dù đã bỏ mình trong trận chiến này -thêm vào con số hằng trăm, hằng nghìn chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc nhiều quân, binh chủng đã bỏ mình trong trận đánh- cũng đủ thấy mức độ hy sinh to lớn của tập thể chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam tự do trước đây, theo đúng nghĩa của tinh thần thượng võ và khí phách “chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.” Qua bài viết của hai tác giả “35 Năm Nhớ về Mặt Trận Thường Ðức,” các sĩ quan Nhảy Dù sau đây đã bỏ mình ngay trên chiến trường: Thiếu Úy Hoàng Văn Tiến, Thiếu Úy Nghiêm Sĩ Thành, Chuẩn Úy Tuyến, Thiếu Úy Quang, Trung Úy Bằng, Trung Úy Khánh (Truyền Tin), Thiếu Úy Ðoàn Tấn, Chuẩn Úy Ðến, Trung Úy Vũ Ðức Tiềm, Ðại Úy Ngụy Văn Ðàng, Trung Úy Phạm Văn Thư, Thiếu Úy Tô Văn Nhị, Chuẩn Úy Bảo, Trung Úy Thịnh, Thiếu Úy Trần Ðại Thanh, Thiếu Úy Lê Hải Bằng... Một số sĩ quan khác có thể cũng đã tử trận trong chiến dịch tái chiếm Thường Ðức, mà vì lý do này hay lý do khác, đã không thấy được kể tên. Dĩ nhiên là con số hạ sĩ quan và binh sĩ Thiên Thần Mũ Ðỏ hy sinh trong trận này còn cao hơn nhiều so với số các sĩ quan tử trận.

* Trận Thường Ðức ác liệt không thể tưởng

Sau hết, về cường độ các cuộc giao tranh và mức độ ác liệt của trận chiến Thường Ðức, hai tác giả đã đưa ra các nhận định sau đây trong bài viết của họ:

“Ðỉnh 1062 là một nấm mồ tập thể khổng lồ, chôn không biết bao nhiêu sinh mạng của cả hai bên. Mỗi khi quân ta vừa chiếm được 1062, thì lập tức địch giội pháo, điên cuồng xông lên quyết chiếm lại cho bằng được. Cả hai bên mất đi, giành lại đỉnh 1062 nhiều lần... 'Cái giá' để chiếm được Ðồi 1062 thực sự là một cái giá rất cao, cao nhất của chiến trận mà các chiến sĩ Dù đã gặp phải từ trước tới nay. Năm tiểu đoàn Dù bị tổn thất nặng, nặng nhất là Tiểu Ðoàn 3 của Thiếu Tá Võ Thanh Ðồng, quân số hao hụt gần 50 phần trăm (đã trích dẫn)... Gần một tháng quần thảo, ta và địch đều bị tổn thất nặng quanh đỉnh 1062. Chiếm xong lại mất, mất rồi thì chiếm lại bằng mọi giá... Vào giờ này, lực lượng địch bu quanh 1062 dày đặc như ruồi bu quanh viên kẹo... Cối 75 ly và sơn pháo của địch từ những cao độ phía Tây Bắc bắn từng nhịp 4 trái, và bộ đội Bắc Việt từ hướng đó đồng loạt tiến vào. Cộng quân dùng chiến thuật biển người, chẳng điều động, ẩn núp gì cả. Lính Nhảy Dù đồng đứng dậy khỏi giao thông hào bắn trả mãnh liệt. Súng bắn không cần nhắm. Lựu đạn ném không cần lấy đà. Hàng hàng, lớp lớp Cộng quân rơi rụng...”

Theo lời hai tác giả, tổn thất chung cuộc của ta và địch sau ba tháng giao tranh là như sau:

“Từ khi khởi đầu chiến dịch Thường Ðức vào ngày 15 Tháng Tám liên tục trong 3 tháng chiến đấu ác liệt quanh khu vực Ðồi 1062, các đơn vị Nhảy D2 đã thiệt hại đến 50 phần trăm quân số, với gần 500 chết và 2,000 bị thương. Sư Ðoàn Nhảy Dù sử dụng luân phiên tổng cộng 7 tiểu đoàn trong chiến dịch này, và đến giữa Tháng Mười Một có đến 6 tiểu đoàn hoạt động trong khu vực Ðồi 1062. Ba trung đoàn Cộng Sản Bắc Việt (24, 29, 66) gần như bị xóa tên với 2,000 bộ đội chết và 5,000 bị thương... Cả hai bên đều kiệt sức sau một chiến dịch đẫm máu.” (Tài liệu: Col. William E. LeGro trong “Vietnam from Ceasefire to Capitulation”)


* Từ trận chiến Thường Ðức đến cuộc Chiến Tranh Việt Nam


Trận đánh Thường Ðức, trận đọ sức cuối cùng của quân đội hai miền Nam, Bắc trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam vừa qua, ngoài việc cho thấy tính ưu việt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trước Quân Ðội Nhân Dân Cộng Sản Bắc Việt, còn tiêu biểu cho những hy sinh không bờ bến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bất kể họ là Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Không Quân, Hải Quân, Bộ Binh, Ðịa Phương Quân hoặc Nghĩa Quân, qua cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Việt Nam trước 1975 trong bối cảnh cuộc chiến đấu cho tự do của nhân loại bị phản bội khi chiếc tiền đồn chống Cộng tại Ðông Nam Á bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn.

Không ai có thể tưởng tượng được rằng, chỉ vì một ngọn đồi khô cằn tại một quận lỵ đèo heo hút gió xa cách những vùng cư dân trù phú dưới miền đồng bằng duyên hải miền Trung, Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Vùng I Chiến Thuật, đành phải chấp nhận đưa lá bài chủ lực của mình tại Vùng Hỏa Tuyến, là hai Lữ Ðoàn của Sư Ðoàn Nhảy Dù, vào trận địa để thanh toán mục tiêu, tức là nhổ cho bằng được cái chốt địch đang ngạo nghễ chiếm đóng Ðồi 1062 ngó xuống quận Thường Ðức đặng từ đó đưa pháo tầm xa về khống chế các cơ sở quân sự -trong đó có bản doanh của Quân Ðoàn I- và dân sự cùng phố phường, làng xã của dân chúng tại miền duyên hải Quảng Nam-Ðà Nẵng. Phải biết rằng, trong tình thế lúc bấy giờ, các lực lượng tổng trừ bị trấn đóng tại Quân Ðoàn I, như Sư Ðoàn Nhảy Dù và Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến cùng với các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân thiện chiến, đang bị căng kéo và dàn mỏng đến mức tối đa trên địa hình hiểm trở của Vùng I Chiến Thuật, chiếc ải địa đầu của miền Nam Việt Nam, nơi xuất phát và cũng là nơi đánh dấu biết bao nhiêu trận đánh lớn trong cuộc Chiến Tranh Quốc-Cộng kể từ khi đất nước Việt Nam bị chia đôi bằng con Sông Bến Hải cho tới năm 1975.

Ðiều rõ ràng nhất và cũng là điều nổi bật nhất chính là mức độ hy sinh rất cao, cao đến độ không bờ bến, của tất cả các lực lượng tham chiến trong chiến dịch chiếm lại Ðồi 1062 và giành lại quận Thường Ðức khỏi tay Cộng quân, trong đó phải kể tới rất nhiều lần các chiến sĩ Nhảy Dù đã kêu phi pháo dội bão lửa ngay trên đầu mình để thí một mạng của mình đổi lấy bốn, năm mạng của địch quân. Chưa có trận đánh nào mà, chỉ trong khoảng thời gian không đầy ba tháng, lại có nhiều sĩ quan ưu tú và binh sĩ kiên cường của Sư Ðoàn Nhảy Dù phải hy sinh tại mặt trận đến thế. Chưa có trận đánh nào mà, chỉ trong khoảng thời gian không đầy ba tháng, các lực lượng chính quy Cộng Sản Bắc Việt và du kích địa phương, đặc biệt là Sư Ðoàn 304 Ðiện Biên, đã phải tổn thất nặng nề đến như vậy, mặc dù, giống hệt như quân đội Pháp trong trận Ðiện Biên Phủ 20 năm về trước, chính quân Cộng Sản là kẻ lựa chọn chiến trường và thời điểm giao tranh, tức là đúng vào lúc họ có được ưu thế chiến lược và chiến thuật cao nhất để bảo đảm rằng họ sẽ là kẻ chiến thắng trong trận thư hùng.

Những hy sinh vô bờ bến đó của các chiến sĩ Nhảy Dù càng trở nên cay đắng hơn khi, không đầy một năm sau, toàn bộ miền Nam Việt Nam đành rơi vào tay quân Cộng Sản vì lý do không phải quân đội và nhân dân miền Nam tự do yếu hèn mà chính vì sự phản bội trắng trợn của Ðồng Minh Hoa Kỳ và thái độ a dua đến mức trâng tráo của phần còn lại của thế giới vốn đã bị bùa mê, thuốc lú của Cộng Sản Quốc Tế làm cho ngu muội đi tự lúc nào. Những cái chết như thế, vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, phải được coi là những thiệt thòi lớn lao nhất trong đời người chiến sĩ và đối với những người thân yêu của họ còn lại trên cõi đời.

Những người Việt Nam tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại, mỗi khi đốt một ngọn nến, thắp một nén hương trước bàn thờ tổ quốc và anh linh các anh hùng, liệt nữ cùng các tử sĩ của Việt Nam Cộng Hòa nhân dịp Tết đến, Xuân về, hãy nhớ đến cách riêng những hy sinh to lớn của các chiến sĩ từng tham chiến tại mặt trận Thường Ðức vào những ngày tháng cuối của năm 1974 -y như những hy sinh của các chiến binh đánh trận Xuân Lộc hồi Tháng Tư năm 1975-bởi vì đây là những trận đánh để đời làm vang danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và làm xấu hổ những nhà viết sử đầy thiên vị của cả bạn lẫn thù đã và đang nỗ lực bôi nhọ sức chiến đấu dũng mãnh, tinh thần thượng võ và ý chí quyết chiến, quyết thắng của người chiến binh Cộng Hòa tại miền Nam Việt Nam, chỉ với mục đích không mấy lương thiện là chạy tội cho sự lầm mê và phản bội của thế giới khi họ cùng hè nhau bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa vào tay quân Cộng Sản đặng chuốc lấy hư danh rằng chính họ đã giúp “mang lại hòa bình và chấm dứt đổ máu cho dân chúng Việt Nam ở cả hai miền Nam, Bắc.” Chính sự cầu an và lòng thương hại không đúng chỗ đó của thế giới đã đẩy đưa dân tộc Việt Nam đến thảm cảnh ngày nay, khi toàn bộ một dân tộc gồm gần 90 triệu người đang phải sống lầm than cơ cực và thiếu tự do, dân chủ dưới ách cai trị vừa độc tài vừa ngu muội mà cũng vừa khiếp nhược trước ngoại bang của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Thật chẳng được cái tích sự gì khi con, em những người tị nạn Việt Nam thuộc các thế hệ thứ nhì, thứ ba, thứ tư... phải đọc và phải học về lịch sử cuộc Chiến Tranh Việt Nam do chính các sử gia Hoa Kỳ viết, có sự tham khảo các sách báo tuyên truyền của Cộng Sản Việt Nam, mà trang nào, chương nào cũng chỉ đổ cái lỗi để mất miền Nam Việt Nam vào tay quân Cộng Sản Bắc Việt xâm lược hồi Tháng Tư năm 1975 cho dân chúng và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa -đặc biệt là đổ thừa cho chính quyền Ngô Ðình Diệm độc tài, gia đình trị và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng, bất lực cũng như viện lý do Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thiếu khả năng chiến đấu- bất chấp các đánh giá trung thực và lương thiện của nhiều danh tướng mang các quốc tịch Mỹ, Pháp, Ðại Hàn, Úc Ðại Lợi, Trung Hoa Dân Quốc, và Israel về quân đội đó.


* Lời cuối cho thiên anh hùng ca


Ðến đây, thiết tưởng không gì bằng hãy mượn lời thơ sau đây của SVSQ Lê Chiến, Khóa 8/72 SQTB Ðồng Ðế, Nha Trang, viết để tưởng niệm các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tham dự mặt trận Thường Ðức năm 1974:

“Giặc qua Sông Côn về Thường Ðức
Trong cơn gió lạnh cuối Trường Sơn
Quân ngược dòng sông đêm thao thức
Di binh, chuyển pháo tấn công đồn


Anh Biệt Ðộng Quân đêm phòng thủ
Nhìn qua ánh sáng lỗ châu mai
Thêm một đêm dài không giấc ngủ
Khói thuốc cay mờ trong mắt ai


Anh lính địa phương trong lô-cốt
Tay cầm ống phóng bảy-mươi-hai
Bên xóm nhà xa đèn ai đốt
Lập lòe ánh lửa bóng liêu trai


Anh lính pháo binh ghi tọa độ
Sẵn sàng yểm trợ pháo tầm xa
Chùi súng, thông nòng lo tu bổ
Tay sờ thép lạnh ướt sương pha


Anh Thiết Kỵ về đường liên tỉnh
Băng ngang Ðại Lộc đến Hà Nha
Vó câu dong ruổi như đời lính
Từ độ lửa binh chẳng về nhà


Anh lính Không Quân từ Ðà Nẵng
Phi pháo từng đêm chặn giặc về
Có lẽ đêm nay anh thức trắng
Ðợi chờ phi vụ đắng cà-phê


Anh Nhảy Dù về từ Quảng Trị
Ba-lô, súng đạn tới Cầu Chìm
Nhận đồ tiếp tế trên chiến lũy
Nghe hờn sông núi dậy trong tim


Ðại pháo từng đêm trên chiến trận
Xe tăng, bộc phá mở hàng rào
Anh vẫn hiên ngang làm bổn phận
Quê mẹ vỉ ai tẩm máu đào

Hơn ba mươi năm ngày lịch sử
Thường Ðức quê tôi những ngày buồn
Cũng bóng tre xanh người Thượng nữ
Vu Gia sông cũ nước xuôi nguồn

Tôi nhớ ơn anh, người lính chiến
Tháng ngày bảo vệ xóm làng tôi
Những kẻ hy sinh trên trận tuyến
Ngàn sau còn nhớ mãi không thôi...”

Hôm nay đây, 35 năm sau trận đánh Thường Ðức lịch sử, nhân lúc Tết đến, Xuân về, bài này được viết lên như là một nén hương lòng kính dâng đến anh linh các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc mọi quân, binh chủng, Cảnh Sát Quốc Gia, các lực lượng đặc biệt và biệt kích, lực lượng Xây Dựng Nông Thôn và các lực lượng bán quân sự... đã đem chính máu đào của mình ra bảo vệ miền Nam tự do chống lại nanh vuốt Cộng Sản xâm lược cho đến hơi thở cuối cùng. Hỡi những người tị nạn Việt Nam đang vui hưởng tự do, dân chủ tại các nước bên ngoài Việt Nam, hãy nhớ lấy cái căn cước tị nạn của mình và chớ quên ơn các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã vị quốc vong thân để cho mình và gia đình mình được sống còn trong thịnh vượng và hạnh phúc cho tới ngày nay! (V.P.)

Ghi chú:
(1) “Sau đó, Bắc quân tháo lui vì chịu không nổi phi pháo của Việt Nam Cộng Hòa ngày đêm dập vào các điểm trú quân của họ. Bộ chỉ huy Cộng quân thấy khó giữ 1062, nên ra lệnh rút lui trong đêm tối...” (Ðại Úy Võ Trung Tín và Ðại Úy Nguyễn Hữu Viên, “35 Năm Nhớ Về Mặt Trận Thường Ðức”)

(2) Trận Thường Ðức cũng còn là trận đánh vẻ vang để đời sau cùng của vị tư lệnh cuối cùng của Sư Ðoàn Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng. Ông đã áp dụng chiến thuật xa luân chiến để hai Lữ Ðoàn Nhảy Dù thay phiên nhau giao tranh và gây thiệt hại nặng nề cho hai Sư Ðoàn 304 (Ðiện Biên) và 324B cùng một Trung Ðoàn của Sư Ðoàn 2 Cộng Sản Bắc Việt và các lực lượng địa phương. (V.P.)

Tuesday, February 10, 2009

Đà nẵng xa rồi .



Tôi chưa về thăm Đà Nẵng
Từ ngày lữa dậy quê hương
Quân hành chiều bên thôn vắng
Xa em xa cả phố phường

Hải Vân đèo cao sương phủ
Đường em về biển Nam Ô
Tôi lính rừng sâu đồn trú
Băng đồi vai nặng ba lô

Sông Hàn con đò xa bến
Nhớ em áo trắng màu da
Trang thư đôi lần gởi đến
Tình tôi lính trận xa nhà

Mỹ Khê em về bên biển
Đường quanh co núi Sơn Trà
Ba năm nhọc nhằn chinh chiến
Chưa lần về nhớ thiết tha

Tôi chưa về thăm Đà Nẵng
Bao lần ăn Tết tha hương
Tôi nhớ người em áo trắng
Yêu em yêu cả phố phường

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Friday, February 6, 2009

U Hoài


Như lục bình trôi trên dòng nước lạ
Nên quanh đi quẩn lại cũng mình ta
Cần tình thân thì thấy toàn mặt nạ
Tìm thương yêu mà chỉ gặp phù hoa .

Dù không phải là rong rêu lãng đãng
Mà sao đời trôi dạt mấy đại dương
Không đành lòng sao lìa bỏ quê hương
Làm du mục sống qua ngày đoạn tháng ?

Vui được gì khi còn nhiều khổ nạn
Khi mỗi ngày còn bao cảnh ly tan
Vết thương còn nhức nhối tận tim gan
Đã hiu hắt lòng đau mùa thương khó .

Qua bao năm ,mộng đời còn bỏ ngõ
Có gì vui khi Trời, Đất phôi phai
Ngày và đêm , năm với tháng u hoài
Sông rẽ nhánh trăm đường trong tâm não .

Vẫn chìm nổi theo từng cơn giông bão
Trời của chung mà Đất thuộc về người
Từng ngày qua , chưa tìm thấy nụ cười
Để sưởi ấm cô miên nơi đất khách .

Thả giọt đắng vào suối nguồn hoang lạnh
Mà nghe lòng thẹn với núi sông xưa
Tự thắp nến soi thêm đời hiu quạnh
Cúi mặt nhìn hồn cổ lụy nắng mưa .

Sông nhớ nguồn đã bao lần chảy ngược
Ta nhớ quê lòng vượt mấy trùng khơi
Đời vô tình nên nhịp sống buông lơi
Cho hạnh phúc khép dần trên nỗi nhớ .

Quê hương ơi , đây nỗi niềm trăn trở
Gói trong mầm hy vọng của ngày mai :
Ngày viễn khách quay về trên xứ sở
Mang yêu thương bù đắp tháng năm dài .

Huy Văn
SVSQ THSQ-QLVNCH



Nhắn Lời

Thursday, February 5, 2009 9:22 AMFrom:"HAU HO TRUNG" To:"Hoa Pham" hoavanpham@yahoo.com


Hậu vừa đi bệnh viện về, các bác sĩ cho biết bệnh tình của Hậu rất khó điều trị.
Nghĩa là sự sống chỉ còn đếm từng tháng mà thôi.
Hậu bị bệnh ung thư gan! Vì vậy, khi Hòa không nhận được thư Hậu trong khoảng thời gian vài tháng là biết Hậu không còn trên cõi đời này nữa.
Vài hàng báo tin đến Hòa để biết tin.
dù sao gần cuối cuộc đời, liên lạc lại được bạn bè và nhìn những hình ảnh thân thương năm nào, Hậu cũng mãn nguyện lắm rồi.
Mến chào và chúc Hoà cùng sinh hoạt của Hội ngày một thêm thăng tiến.
Hồ Trung Hậu (Hồ Văn A)

Thư gởi Hồ trung Hậu .


Tôi với anh chưa một lần gặp mặt
Dù cùng chung mưa nắng ở thao trường
Đồng Đế ơi những ngày tháng mù sương
Nhớ kỹ niệm của một thời vào lính

Vì TỔ QUỐC lên đường không suy tính
TRÁCH NHIỆM nào mang nặng cả bờ vai
Trong hiên ngang DANH DỰ của đời trai
Mình chấp nhận không một lời than trách

Xa mái trường ngày vui bên đèn sách
Về Nha Trang thao trường đổ mồ hôi
Bải Tiên ơi cơn sóng vổ bên đồi
Chiều bải tập đèo Rù Rì mỏi bước

Ngày mản khóa bước quân hành xuôi ngược
Anh ra vùng hỏa tuyến mịt mù khơi
Tôi về Nam đường xa bước rả rời
Mình chung một quê hương hờn sông núi

Tôi viết những bài thơ trong buồn tủi
Anh chưa tròn hẹn ước cũng như tôi
Qua trang thư tình đồng đội bồi hồi
Tin buồn đến như một lời vĩnh biệt

Xin gởi anh những chân tình tha thiết
Và nguyện cầu anh một thuở an vui
Đón xuân sang mà lòng thấy ngậm ngùi
Tôi nhớ mãi tên anh Hồ trung Hậu .

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Monday, February 2, 2009

Em Gái Trảng Bàng


Hai tuần trước khi về California tham dự buổi họp mặt Thiết Giáp Binh nam Cali tháng 5 năm 2008, tôi lục soạn những kỹ vật đã gìn giữ từ hơn 30 năm nay ,để có dịp cho bạn bè ngày xưa nhìn lại những kỹ niệm trong quá khứ, như hình ảnh ngày còn ở quân trường Đồng Đế và giấy tờ tùy thân của một quân nhân quân lực VNCH.

Tình cờ tôi tìm được một tấm hình trắng đen ,trong đó hình của một cô gái khoảng 20 tuổi ,dáng nhìn rất dể thương, đứng bên một hàng chậu cây kiểng hình như của một mái đình hay ngôi chùa nào đó. Tôi cố hình dung lại người trong ảnh nhưng trí nhớ tôi quá kém và tấm hình với vài chi tiết không đủ để tôi biết người con gái đó là ai ? Trong mặt sau của tấm hình có ghi ngày 6/10/1974 như vậy tôi đã nhận được tấm hình nầy khi tôi đang ở chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ và chử ký tên vội vàng nên khó đoán được tên của chủ nhân ,tôi cố ôn lại những ngày qua từng thôn xóm , làng mạc xa xôi từ Bình Dương , Biên Hòa dọc theo Quốc Lộ 13 về Bến Cát, Lai Khê , Chơn Thành hay Tỉnh Lộ 22 về Củ Chi , Trảng Bàng , Tây Ninh và Hậu Nghỉa, ngay cả Quốc lộ 20 về Định Quán , Phương Lâm , nhưng tôi vẩn không nhớ người con gái trong hình nầy là ai và ở chốn nơi nào . Tôi không có người yêu , tôi có tình yêu to lớn như đại dương nên không có bến bờ cố định.Gia đình tôi ở Đà nẵng và mùa hè năm 1970 tôi vừa học xong lớp 10 , trước nhà tôi là nhà của một anh Sĩ Quan Biệt Động Quân , anh có cô em gái tên Thuyền đang học lớp 9 trường Đồng Khánh ở Huế , vào Đà Nẵng chăm sóc chị dâu vừa sinh đứa con trai đầu lòng . Cô Thuyền rất dể thương , cô mê thơ tình Hàn mặc Tữ , Xuân Diệu , Huy Cận , còn tôi những ngày trên căn gác nhỏ nhìn qua hàng dâm bụt nghe cô Thuyền ru cháu , tôi yêu tiếng hát ngọt ngào của cô như kẹo mè xững Huế , tim tôi rộn ràng mỗi lần nói chuyện với cô . Tôi tập tành làm thơ , tôi không dám gởi cho cô , bạn bè tôi chọc ghẹo thơ của tôi chỉ để đánh số đề nên đừng gởi cho ai , tôi thầm yêu cô Thuyền nên tôi yêu thơ Vũ hoàng Chương.

Lủ chúng ta đầu thai lầm thế kỹ
Một đời người u uất nổi bơ vơ
Đời kiêu bạt không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ

Nhưng thuyền ai không ghé bến tôi, nên cuối mùa hè cô Thuyền về Huế không một lời giả từ, tôi quên giấc mộng làm anh lái đò bên sông Hương đưa cô Thuyền về bến Ngự.[Thư trung hửu nữ nhan như ngọc] tôi tự nhủ và gởi hồn vào trang vở để học thi Tú Tài I mùa hè năm 1971 lòng tràn niềm hy vọng có ngày tôi sẻ tìm được một người đẹp như cô Thuyền , tôi vẫn là kẻ cô đơn với tâm hồn lảng mạn , vãn viết những bài thơ tình đơn phương vụng dại mà không biết gởi cho ai , cho đến tháng 4 mùa hè đỏ lữa 1972 , tôi có quen với anh Tùng là chủ tịch hội thi văn đoàn Lạc Hồng thuở đó , tôi thường ghé chổ anh làm việc để nhờ anh gởi thơ tôi cho các tờ báo ở Sài Gòn ,hy vọng có một ngày nào đó bài thơ của mình được đăng tải thì cuộc đời lên hương, có một lần đến tìm anh Tùng mà anh đi vắng nên ghé một quán nước kế chổ anh làm , có một cô bán quán là em họ của anh nhờ mượn cây viết để viết lời nhắn cho anh , khi nhìn cây viết Pilot của cô chủ quán có khắc hàng chữ [ Trung tướng Hoàng xuân Lảm thân tặng ] tôi mới hỏi cô làm sao cô có cây viết nầy của tướng Lãm ?cô cho tôi biết là cô dạy vỏ Thái cực Đạo cho quân nhân của bộ chỉ huy Quân Đoàn I và cận vệ cho tướng Lãm ,, tôi cười nói với cô bông hồng nầy có gai .Sau nầy tôi mới biết tên cô là Minh Yến, cô nữ sinh lớp 9 xinh đẹp của trường Nữ trung học là đệ nhị đẳng huyền đai Thái cực Đạo huấn luyện viên ở Đà nẵng , người có đôi mắt u uẩn chiều lưu lạc như bài thơ Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng , người có nhan sắc làm mềm lòng kẻ đối diện nên những ngày huấn luyện khổ nhọc ở Nha Trang và những tháng năm lang bạt chiến đấu ở miền Nam , tôi biết buồn khi đọc thơ Lưu trọng Lư.

Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vương víu nợ thi nhân

Nhưng con chim yến đã không về bên hải đảo ,những cành gai nhọn của bông hồng nầy đã để lại trong tôi nhiều vết thương rướm máu , hàng trăm bài thơ tình viết vào trong nhật ký , hàng trăm lá thư viết từ trong nổi nhớ , từ Đồng Đế và những vùng chiến trận của quân khu III ,mà mổi lá thư dài 4 trang như lời cô Yến đã từng đòi hỏi , đã không mang đến cho tôi cuộc tình trọn vẹn ,nên ngày mản khóa Căn Bản Thiết Giáp tôi chọn về Lử Đoàn III Kỵ Binh mà không về vùng I chiến thuật để gần gủi gia đình như mong muốn của mẹ tôi . Như vậy tôi không có người yêu ,tôi đã qua ngưỡng cửa trường trung học , tôi đã có những ngày dầm mưa giải nắng ở Đồng Đế, Nha Trang ,tôi đã bước chân qua khắp chiến trường máu lữa của vùng III chiến thuật , tôi đã làm kẻ học trò đơn độc và người lính cô đơn mà không có một người tình , ai đã gởi cho tôi tấm hình của một người con gái rất dể thương mà tôi không còn nhớ rỏ .Khi ở chi đội 3, CĐ 2/15 TK tôi thường đi tăng phái cho CĐ 2/22 Chiến Xa , mổi lần lảnh lương thì Cần[ một người lính củ của chi đội 2] hay gởi thư để biết tin tức tôi lúc đó ra sao , có lẻ khi nhận tấm hình nầy thì thơ nhắn tin của Cần lại bỏ chung với nhau , nên tôi tìm được tấm hình và sau đó mở lại lá thư của Cần sau hơn 30 năm , trang thư nhàu nát và màu mực phai tàn theo thời gian,Cần có ghi trong thư sau vài lời thăm hỏi xã giao là một câu hỏi .{Sông Hồng [ danh hiệu truyền tin của tôi ] có ghé Trảng Bàng không ? Nếu không thì tôi sẻ xâm nhập vào Rừng nước mắt .}

RỪNG NƯỚC MẮT ở TRẢNG BÀNG những chử màu nhiệm đó đã làm tôi nhớ lại tất cả , kỷ niệm nào sống dậy trong tôi như mới hôm nào ,sau cuộc hành quân giải tỏa căn cứ Đức Huệ giửa tháng 4 năm 1974 , tôi ở chi đoàn 3/18 TK về nghỉ xả hơi để bổ sung quân số và đạn dược tại Trảng Bàng , đơn vị đóng quân phía Bắc chợ Trảng Bàng chừng 3,4 cây số , hôm đó có tôi , Trung sỉ Tước và Hùng tài xế của tôi lội bộ ra chợ uống cà phê , trên đường trở về ngang xóm nhà cạnh một ngôi chùa , ba đứa tôi ghé vào một căn nhà đầu tiên để kiếm nước uống cho đở khát , cô con gái trong nhà rất hiền lành , dể mến . Sau vài phút chuyện trò thì tôi biết cô Hường học lớp 10 , nay đã nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình , cô cho tôi biết cô đã từng tham dự chương trình em gái hậu phương , thăm viếng và an ủi những anh trai tiền tuyến của các đơn vị Sư Đoàn 25 Bộ Binh trước đây , tôi nói với cô nếu muốn gởi thư cho anh tiền tuyến thì xin gởi cho tôi , tôi cho tên họ , KBC và hẹn một ngày trở lại . Một tháng sau đó tôi nhận thư Hường gởi thăm , nhà cô ở trong xóm nhỏ nên nhờ địa chỉ một cô bạn học ở chợ Trảng Bàng, những lúc rảnh rổi tôi viết thư cho Hường và gởi về Lâm lệ Thủy nhờ chuyển cho Hường , thư đi rồi thư về cũng như tôi những tháng ngày đi và về qua từng vùng binh lữa mà chưa có lần trở lại để thăm nhau , đôi lần trong mơ ước nào của những ngày xa vắng tôi muốn biết Thủy là ai , từng cánh thư tôi viết trên phong bì ghi hàng chử [ Thân gởi Lâm lệ Thủy ] nhờ cô chuyển cho Hường , tôi tưởng tượng như mình đang viết thư cho Thủy , người con gái tôi chưa có lần gặp gở.

Tôi thuyên chuyển về chi đoàn 2/15 TK khoảng giửa tháng 6/1974 sau trận giải tỏa An Điền và căn cứ 82 ở Bình Dương , cuối năm 1974 chi đoàn chuyển quân về Gò dầu Hạ khi CSBV chuẩn bị tấn công Trị Tâm và Khiêm Hanh , tôi và Cần có dịp ghé Trảng Bàng nên tìm đến nhà của Thủy , nhà cô là một tiệm bán gạo ở gần cuối chợ Trảng Bàng , ba cô là người Việt gốc Hoa khoảng hơn 40 tuổi , tánh tình rất cởi mở , tôi nói với ông là nhân dịp hành quân qua đây nên đến nhờ cô Thủy chuyển thư tay của tôi cho Hường , ông gọi cô Thủy ra chào hai đứa tôi và cho tôi hay là Hường thường ghé nhà ông để lấy thư , tôi rất ngạc nhiên trước nhan sắc dịu dàng của Thủy , mái tóc chấm bờ vai như cô Thuyền , người con gái đất Thần Kinh và đôi mắt buồn vời vợi như cô Yến của phố phường Đà Nẵng trong dỉ vãng.

Sau khi được biết tôi ở Thiết Đoàn15 KB , ông mời tôi và Cần ở lại ăn bửa cơm chiều để ông cám ơn những người trong đơn vị nầy đã chiếm lại Trảng Bàng sau ngày ngưng bắn năm 1973 , ông cho tôi biết nếu không có cuộc chiến đấu anh dũng của Thiết Đoàn 15 Kỵ Binh nầy có lẻ thành phố thân yêu của ông đã bị Cộng Sản chiếm đóng và không biết gia đình ông sẻ ra sao .Tôi và Cần từ giả gia đình cô Thủy để trở lại vùng hành quân , tôi hỏi Thủy cho phép tôi gởi thư thăm cô khi về đơn vị , cô mỉm cười đồng ý , có lẻ đó là hình ảnh đẹp sau cùng về cô mà tôi còn nhớ qua lần đầu tiên gặp gỡ và cũng là lần duy nhất . Tết năm 1975 chi đoàn về gần Phú Giáo thì tôi nhận được lá thư đầu tiên của Thủy , những trang thư mang nặng chút tình của cô em gái hậu phương gởi cho anh tiền tuyến , lời thư là niềm an ủi cho kẻ ở trên tuyến đầu , sống một đời tha hương và người ở phố phường chờ mong ngày tái ngộ. Đầu tháng 3 năm 1975 tôi đi tăng phái cho chi đoàn 2/22 CX về mặt trận Khiêm Hanh ,nên không về chi đoàn 2/15 để nhận thư cho đến cuối tháng lãnh lương thì nhận được thư của Thủy, trong đó có tấm hình Thủy gởi cho tôi để nhớ về nhau những ngày không gặp mặt và cầu nguyện cho tôi những tháng ngày chinh chiến được bình an . Tháng 4 năm 1975 chiến trường miền Nam sôi động , tôi không còn nhận được thư của Thủy và không có dịp ghé về thăm , lử đoàn III kỵ binh tham dự những trận đánh đẩm máu từ Khiêm Hanh,Truông Mít cho đến Long Khánh , Phước Tuy , Tôi là một kẻ may mắn còn sống sót sau ngày quốc hận 30 tháng 4 năm 1975 và định cư tại Hoa Kỳ , hơn 34 năm tôi không nhớ mình đã giữ tấm hình trong quá khứ , không nhớ người trong ảnh nếu không có lời nhắc nhở của Cần , Lâm lệ Thủy người em gái Trảng Bàng có một lần gặp gở , bây giờ em ở đâu ? người con gái đầu tiên đã tặng tôi tấm hình làm kỹ niệm , để tôi nhớ về em trong những buổi quân hành và 34 năm sau trên chốn lạ xa nầy nhìn lại tấm hình ngày xưa tôi buồn muốn khóc , Lâm lệ Thủy ,rừng nước mắt của Trảng Bàng là tên em , chắc có lẻ em đã có gia đình và hy vọng em được sống một đời bình an, hạnh phúc , tôi có nghỉ đến em , tiếc thương một lần gặp gở cũng chỉ còn nhìn lại tấm hình để nhớ, để thương .

Thiên Chương CĐ 2/15 TK mùa xuân 2009


Saturday, January 24, 2009

Xuân nầy không về




Xuân nầy chắc con không về
Khi quê hương vẫn bốn bề lữa binh
Ai gây chi cuộc chiến chinh
Để con từ biệt gia đình ra đi
Ba trồng mấy chậu tường vi
Ngày con nhập ngũ giờ thì lớn chưa ?
Năm nầy tháng chạp thiếu mưa
Hoa có nở kịp giao thừa đón xuân ?
Tết nầy mẹ gói bánh chưng
Con không về được mẹ đừng bận tâm
Láng giềng gặp mẹ hỏi thăm
Tin con chiến trận đêm nằm lo âu
Em thơ gánh nước ao sâu
Thay anh chăm sóc giàn bầu vườn rau
Một mùa xuân nữa qua mau
Em không áo mới xanh màu lụa tơ
Chị hai xuân đến bơ vơ
Thờ chồng nuôi dưỡng con thơ một mình
Anh vì chiến cuộc hi sinh
Sắt son chị giữ trọn tình phu thê
Tết nay mừng đón xuân về
Quân hành biên ải não nề nhớ thương
Một mai trên khắp nẽo đường
Thanh bình trở lại quê hương con về

Giao thừa Xuân Kỷ Sửu 2009
SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Tuesday, January 20, 2009

Tôi không có mùa xuân




Tôi không ăn Tết ở Nha Trang
Gắn Anh Pha xong về Phan Rang
Xuân Bảy mươi ba đêm ngưng bắn
Giao thừa không rượu đón xuân sang

Tôi không ăn Tết ở Biên Hòa
Long Thành bụi đỏ dấu chân qua
Xuân Bảy mươi tư trên lô cốt
Khói thuốc vàng tay chạnh nhớ nhà

Tôi không ăn Tết ở Sài Gòn
Lương khô cuối tháng thiếu cơm ngon
Xuân Bảy mươi lăm về Phú Giáo
Dấu xích hằn trên lối cỏ mòn

Tôi không ăn Tết ở miền Trung
Bắc Mỹ trời đông tuyết lạnh lùng
Hơn ba mươi năm xuân viễn xứ
Quê hương cách trở nhớ vô cùng

Tôi không ăn Tết ở xứ người
Thiếu cánh mai vàng nở thắm tươi
Bao năm tôi sợ ngày Tết đến
Không có mùa xuân vắng nụ cười .

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Sunday, January 18, 2009

Xuân về trên rừng vắng





Đêm nghe đạn pháo đón giao thừa
Không biết mai vàng đã nở chưa
Nơi đây rừng vắng dăm thằng lính
Nâng chén rượu mừng uống say sưa

Lính trận miền xa buổi xuân về
Phiên gác đêm buồn nhớ mải mê
Chẵng biết ngày mai trên trận tuyến
Bao kẻ ra đi lổi hẹn thề

Xuân trên rừng vắng gió lặng im
Lững lờ mây trốn bóng trăng chìm
Không biết còn bao mùa xuân nửa
Xa biệt quê hương mỏi bước tìm

Mừng xuân chén rượu uống mềm môi
Chia xẻ cùng nhau kiếp nổi trôi
[Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi]

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Wednesday, January 14, 2009

Xa em mùa hè đỏ lữa.



Anh nhớ buổi đoàn quân xa chuyễn bánh
Rời trung tâm tuyển mộ buổi lên đường
Qua cầu Vồng đường Thống Nhất bụi vương
Có em đứng bên cổng trường vôi tím
Xa Đà Nẵng giã từ bao kỹ niệm
Về Nha Trang biển xanh bóng thùy dương
Đồng Đế ơi cơn nắng ở thao trường
Nóng như lữa mùa hè vùng giới tuyến
Từ Trị Thiên những ngày đầu cuộc chiến
Giặc thù qua Bến Hải đến Đông Hà
Vùng cao nguyên tràn ngập với chiến xa
Kon Tum đứng oai hùng trong lữa đạn
An Lộc vẫn hiên ngang theo ngày tháng
Đạn pháo nào vở vụn đất quê hương
Anh ở đây thép súng lạnh hơi sương
Chiều bãi tập căm hờn lên ánh mắt
Đêm không ngủ buồn phiền nào quay quắt
Thương quê nghèo từ độ lữa binh qua
Quấn khăn tang con trẻ khóc thương cha
Đã gục ngã trên Cổ Thành Quãng Trị
Người cô phụ ôm nấm mồ tử sĩ
Núi Chu Pao đạn thù cướp đời anh
Bình Long còn bao nấm mộ cỏ xanh
Mẹ già khóc thương con mình bạc phận
Ngày mản khóa xông pha vào chiến trận
Anh không về Đà Nẵng để thăm em
Trên bốn vùng chiến thuật bước từng đêm
Anh chiến đấu trong bóng cờ kiêu hãnh
Viết cho em bài thơ đêm giá lạnh
Bên tuyến đầu hỏa châu sáng mờ xa
Nhìn sao băng bên mấy giải Ngân Hà
Anh mơ ước bên em ngày chiến thắng .

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Sunday, January 11, 2009

Chưa tròn hẹn ước .




Toán 723 Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật trên núi rừng Quãng Nam



Anh có hẹn một ngày anh trở lại
Đưa em về quê chồng xứ Quãng Nam
Qua Điện Bàn có vườn cây xanh trái
Tháp Bằng An di tích giống dân Chàm

Anh có hẹn đưa em về Đại Lộc
Thăm ngoại anh chiều dệt lụa ,chăn tằm
Cầu Ái Nghĩa con đò qua mấy nhịp
Để ngoại buồn chờ đợi biết bao năm

Anh có hẹn đưa em về Cẩm Lệ
Quê nội anh bên sông nước Thu Bồn
Đã bao lần thuyền xuôi qua cửa bể
Anh chưa về nên mắt nội héo hon

Anh có hẹn mai không còn chinh chiến
Đưa em về quê chồng cạnh Trường Sơn
Vì nhiệm vụ anh không tròn ước nguyện
Đợi chờ anh năm tháng khóc tủi hờn

Anh có hẹn mà anh chưa về đến
Con chúng mình nơi quê ngoại lớn khôn
Cũng trái ngọt ,cây xanh tình yêu mến
Sông buồn như quê nội bến Thu Bồn

Anh có hẹn mà không tròn hẹn ước
Để em buồn năm tháng mỏi mòn trông
Xin cầu nguyện hòa bình trên đất nước
Để một mai em về đến quê chồng .

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Saturday, January 10, 2009

Còn chút gì để nhớ để thương


Cám ơn tất cả các bạn bè đồng môn khóa 10B/72 Đồng Đế, Nha Trang.

Một lần xem bài của bạn


Em Pleiku má đỏ môi hồng….
Còn một chút gì để nhớ để thương,

Trời Sài gòn nay chợt mưa chợt nắng,
Chiến hữu đó, nay chợt nhìn kỷ niệm,
Trời Sài Gòn lại nắng lại nặng mưa
Mưa trái mùa gặm nhấm mảnh đời trôi

Anh đã đi đi trọn đường đời
Pleiku đó nay vẫn còn má đỏ,
Để đời anh trọn kiếp chinh nhân,
Còn nhiều để nhớ để mà thương!

Sài Gòn mưa chợt đến lạnh mùa xuân,
Anh phương đó còn nhớ nhiều kỷ niệm,
Thanh kiếm bạc vùng vẫy trên biển cả
Ánh mặt trời rực rỡ cả trời xa,

Sài Gòn mưa chơt đến lạnh mùa xuân,
Pleiku lạnh gió đông về hồng đôi má
Ấm cả đôi bờ gởi chút nắng mùa xuân ,
Còn ít nhiều để nhớ để mà thương!
6/1/2009 giáp mùa xuân Kỷ Sửu
Alfa Hoàng Cúc – Hà Tiến Đạt

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển


Đọc bài thơ rất hay không biết tác giả là ai và còn
thiếu sót câu nào hay không ?Bèn copy gởi đến quí NT
và các bạn BK .NT cũng như bạn nào biết rõ xin bổ túc thêm .
Xin cám ơn.
(có lẻ là ba bài riêng biệt thì phải và ảnh của tác giả ) Toàn 352


--------------------

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi ! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.
---------------------------------------
áo rách vai ta lưng trần trên phố thị
rũ bụi đời dưới mắt của gian nhân
ta luống cuống dường như đang tỉnh mộng
tháng ngày qua là men những cơn say
-----------
Quán khách chiều Đông buồn viễn xứ
Tủi nhà, nhớ nước, hận tha hương

Xuân về nhớ em .



Đơn vị chuyễn quân về Bình Dương
Xóm vắng, làng xa phủ bụi đường
Có em áo trắng trường An Mỹ
Thăm anh lính trận lúc tan trường

Ngồi bên bóng mát lũy tre xanh
Bửa ăn đạm bạc buổi quân hành
Cá khô, gạo sấy, ca nước lạnh
Cũng ấm lòng em với tình anh

Bên nhau mơ ước chuyện mai sau
Ngày nào quê mẹ hết thương đau
Em đợi anh về trong chiến thắng
Nhờ người mai mối chuyện trầu cau

Từ đó những tháng ngày gió sương
Anh trong lữa đạn chốn sa trường
Chưa có một lần về An Mỹ
Thăm người em gái chốn hậu phương

Ai biết cuộc đời lắm bể dâu
Bao năm xa cách, bấy năm sầu
Bình Dương bao độ xuân về tới
Anh ở phương nầy, em ở đâu ?

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Saturday, January 3, 2009

Miền xa nhớ về em



Quê hương em Vàm Cỏ Đông
Dừa xanh bóng mát bên đồng cò bay
Quê hương tôi Vàm Cỏ Tây
Phù sa nước đục phủ đầy mạ xanh
Cũng đồng lúa mái lều tranh
Khói lam chiều tỏa long lanh lối về
Tôi làm lính trận sơn khê
Xa dòng sông lở hẹn thề ngày xưa
Những ngày sớm nắng chiều mưa
Vàm Cỏ Đông rợp bóng dừa em qua
Nhớ màu áo lụa bà ba
Như da em trắng nỏn nà sắc son
Nhớ bông điên điển thơm ngon
Như môi em ngọt nụ hôn ban đầu
Ngày sông biển hóa cồn dâu
Tôi xa Vàm Cỏ tuyến đầu nhớ mong
Ngày xưa chỉ cách hai sông
Ngày nay muôn dặm ai không ngậm ngùi
Tôi buồn xứ lạ chẳng vui
Giày sô áo trận quen mùi lũng sâu
Nhớ em bến nước qua cầu
Như Tương giang vĩ nhớ đầu sông Tương
Đêm nay gió lạnh biên cương
Nhìn trăng gối súng mà thương một người

Lê Chiến khóa 8/72

Saturday, December 20, 2008

Ngày về Tân Uyên

Cảm thán
[ Mỹ nhân bên hoa sứ ]

Dung nhan hoa sắc tương ánh hồng
Môi thắm nụ hồng cợt gió đông
Ai đem hoa sắc khơi màu nhớ
Ai nhớ về ai ai nhớ không ?

Huỳnh Vân CĐ 2/15 TK






Hôm qua Chi Đoàn về Tân Uyên
Có cô em gái tóc đen huyền
Gánh bưởi đường xa về bên chợ
Áo bà ba tím đẹp như tiên

Anh lính mủ đen đồ ủi hồ
Xi ra đánh bóng bốt đờ sô
Rập rè theo bước cô hàng bưởi
Tán tĩnh đôi lời nói với cô

Vài anh Thiết Kỵ uống cà phê
Quán nhỏ cô em xỏa tóc thề
Kể chuyện ngày qua vùng tuyến lữa
Có bao đồng đội chẳng trở về

Cô hàng bán rượu mắt bồ câu
Mừng anh lính trận buổi bên nhau
[Mỹ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu]

Hôm nay Chi Đoàn về Bình Dương
Xa Tân Uyên quán nhỏ bên đường
Nhớ người em gái hôm dừng bước
Cơn mộng đêm nầy nghe vấn vương

Lê Chiến khóa 8/72

Friday, December 19, 2008

Giáng sinh & Năm mới




(Kính gửi toàn thể đồng môn quân trường Đồng Đế-Nha Trang như lời CHÚC PHÚC)

Giáng sinh thơ thẩn đến gần
Sắp tàn năm cũ , Đông Quân(*) đang về
Chúc đồng môn khắp sơn khê
Từ quê nhà đến bên kia bán cầu
Nhận nhiều ân phước bền lâu
Chiến binh hồn giữ tình sâu thuở nào
Thần Đồng Đế như trăng sao
Trăng lên sáng tỏ, sao hoài lung linh
Giáng sinh năm về một lần
Ươm mầm hạnh phúc dâng tràn dương gian
Hai ngàn linh chín (2009) chứa chan
Hoa Xuân hé nụ, Đông tan tan dần
Đồng môn lòng mở thênh thang
Tâm Xuân xua hết tà ma cõi trần
Năm mới ngát hương thanh tân
Trao nhau quả ngọt trên cành yêu thương
Đồng môn như con muôn phương
Đồng Đế là Mẹ vạch đường con đi
Giáng sinh, năm mới, xuân thì
Muôn hoa hát khúc ân tình nuớc non

11:30PM, 19-12-2008
Trần Ngọc Tấn
Khóa 8/72 Đồng Đế

(*)Đông Quân: Chúa Xuân

Thursday, December 18, 2008

Mùa Đông Dakota


Mùa Đông Dakota
Trời Da ko ta lạnh
Phố vắng đường cô liêu
Chim về Nam vổ cánh
Tuyết trắng rơi thật nhiều

Anh là hơi sưởi nóng
Thở trong hồn yêu đương
Cho em đừng lạnh cóng
Những đêm dài tha hương

Anh như là chiếc áo
Che gió về lạnh thân
Để những ngày giông bão
Ấm trong lòng tình nhân

Tháng ngày qua rất chậm
Da ko ta mùa đông
Ôm em vòng tay ấm
Hôn em nụ hôn nồng .

SVSQ Lê Chiến khóa 8/72

Wednesday, December 17, 2008

Trai thời chiến


Phạm Hùng, TX
Tuổi 19, xếp bút nghiên nhập ngủ
Bỏ sau lưng ấp ủ chuyện tương lai,
Tung Hoành Sơn gội nắng gió tháng ngày
Tròn bổn phận làm trai thời chiến loạn

Gót chân nhỏ, nhưng lòng son gan thép,
In dấu hài khắp chốn đất quê hương
Nơi Cao nguyên sỏi đá với rừng thiên
Trải dài xuống bưng biền vùng đất cuối

Ôm lý tưởng thanh bình cho sông núi,
Chống bạo tàn, dành cuộc sống ấm no
Ðổi máu đào, xương trắng lấy tự do
Thề nối bước cha anh vì đại nghĩa ..

Quyết xông pha , vẫy vùng nơi trận địa
Bom đạn gào đâu sờn chí nam nhi
Như Kinh Kha, dẩu có một lần đi
Gương Tráng Sĩ muôn đời soi hậu thế

Từng vùng đất cháy đen thành hoang phế,
Nay hồi sinh chào đón những đóa hoa
Rừng hoang vu ngập ánh nắng chan hòa
Ðồng lúa cháy ..xanh lên màu mạ mới

Những bước chân hầu như không biết mỏi,
Bước hành trình nặng trĩu …nỗi niềm riêng,
Chờ đợi ngày bom đạn đã ngủ yên
Về nối lại chuyện ngày xưa thuỡ ấy …

Hẹn em nếu có kiếp sau



"Chàng chiến sĩ đa tình Khoá 10B/72"

Tặng chiến sĩ Biệt kích Phạm Hòa

Chàng biền biệt trong cõi xa mưa gió
Thiếp ở nhà ngày vò vỏ đợi trông
Nhắn gió mây cho Thiếp gởi tấm lòng
Nàng cô phụ nhớ mong người chiến sĩ ...

Phạm Hùng, TX


Bao năm tìm bóng hình xưa
Nối lời ước hẹn còn chưa hôm nào
Trời cao đất rộng làm sao..!
Biết người nay ở nơi nào mà mong?

Một chiều mưa tạt bên song
Tin xa đưa đến ôm lòng quặn đau!
Nàng đi về cõi xa nào…
Bên trời Tây lạnh .. chàng gào khóc ai..!


Em ơi! Duyên phận không may
Kiếp nầy phải chịu đọa đày xa nhau
Hẹn em, nếu có kiếp sau
Tình anh vẫn mãi dạt dào cho em …

Những Vần Thơ Trà Mi


Trà Mi
© DCVOnline

Nhớ một ngày giã từ vũ khí,
Tấm thẻ bài hoen rỉ nơi đâu ?
Trại tù cải tạo đọng sầu,
Nước phèn cơm chấy nhuộm mầu sạm da.

Nhớ một ngày giã từ vũ khí,
Trong tủi hờn hoang phí đời trai.
Lê la cuộc sống tù đày,
Tuổi xuân vùi dập tương lai mịt mù.

Nhớ một ngày giã từ vũ khí,
Trong bàng hoàng kinh dị cơn mê.
Xác thân gầy héo thảm thê,
Chập chờn vất vưởng bước lê tủi hờn.

Nhớ một ngày giã từ vũ khí,
Vẳng bên tai tiếng quỉ lời ma.
Râm rang ra rả hò la,
Vuốt nanh rực máu A Ka chiả gìm.

Nhớ một ngày giã từ vũ khí,
Nơi rừng sâu đất rỉ đỏ sương.
Nước chan mì lát đoạn trường,
Đọt rau rắn mối quí dường trân châu.

Nhớ một ngày giã từ vũ khí,
Xác không hồn hoại chí nam nhi.
Tuổi xuân hoang phí vô tri,
Hờn câm tủi nhục không gì đau hơn.

Lòng trong vơi nổi oán hờn !!!

==================================

Đài Tưởng Niệm Bất Diệt

"Vị Quốc Vong Thân" nay phủ mờ rêu
Cũ kỹ, phong sương, tàn tạ ráng chiều
Tượng Tiếc Thương, kẻ thù giật ngã
Như chính nghĩa một thời đã đổ xiêu

Những trang chiến sử có thể nào quên?
Anh hùng vị quốc sao bị xoá tên?
Không! Đài tưởng niệm là vĩnh viễn
Trong những trái tim, kiên cố, chói loà

Chào anh! Người lính Việt Nam Cộng Hoà
Dù chỉ nắm xương tàn, rã thịt da
Hay phế nhân, thân già nua, tàn tạ
Muon đời vị trí bậc cha kiên cường

Chào anh! Người lính bạn đáng thương
Chết nơi chiến trường cách một đại dương
Với người thân chờ nơi đất lành Mỹ Quốc
Cho đuốc Nữ Thần sáng rọi Viễn Đông

Bảo vệ miền Nam một quãng đường
Tự do, trù phú, no ấm tình thương
Hai mươi năm chinh chiến, máu xương
Mãi còn tô đẫm thiên trường sử ca

Monday, December 15, 2008

Thư gởi người em gái


Minh Vũ

Chiều hôm nay có ai về quê cũ
Tìm dùm tôi người con gái tên Duyên
Nhắn với em tôi giữ trọn lời nguyền
Em gắng đợi chờ ngày về tao ngộ

Nay quê nhà chắc đến mùa lúa trổ
Cánh đồng làng rộn rã tiếng hò khoan ..
Tôi ở đây ngày vẫn bước nhịp nhàng
Cất tiếng hát quân trường vang tiếng gọi

Thao trường .. đổ mồ hôi lên cát sõi
Mai chiến trường bớt đổ máu đào rơi!
Ðời chiến binh phiêu bạt bốn phương trời
Mang chí cả tung hoành muôn vạn nẽo…

Chiều Bải Tiên ngồi nhìn từng đợt sóng
Nghe rì rào tôi ngỡ tiếng em trao
Thì thầm nhau câu hẹn ước hôm nào
Yêu nhau mãi cho dù mình xa cách …

Ðêm Nha Trang tôi đứng nhìn biển rộng

Ngắm ngân hà tôi mơ mộng vu vơ
Có vì sao rơi rớt thật xa bờ
Chợt cảm thấy lòng bâng quơ xao xuyến ..

Em yêu hởi! Những ngày xưa quyến luyến
Kẻ phương nầy, phương đó nhớ thương nhau
Cầu mong ngày đất nước hết binh đao
Mình sẽ mãi bên nhau em yêu dấu ..
Minh Vũ

Cánh hoa chưa kịp cài lên tóc



Minh Vũ

Sáng hôm nay tình cờ em đọc được
Những bài thơ thầm ước buổi chiến chinh
Của các anh lính viết lúc đăng trình
Buồn nhớ lại chuyện tình mình ngày cũ

Em hôm nay đã trở thành thiếu phụ
Thuỡ xa xưa em ấp ũ một thời
Làm người yêu lính chiến suốt một đời
Theo Lính bước khắp nơi vùng đất nước.

Em diễm phúc được tròn lời nguyện ước
Gặp người hùng áo chiến thấm phong sương
Chàng hiên ngang xuất hiện buổi tan trường
Em e ấp tình vương trao ánh mắt…

Tình chớm nở áo rừng xanh, áo trắng
Sánh vai nhau chung bước những ngày mơ
Thầm nguyện ngày đất nước hết đôi bờ

Ðể ước vọng thành bài thơ diễm ảo ..
Chàng hiên ngang đâu xá gì xương máu
Ngăn giặc thù tràn ngập chốn biên cương
Những lá thư viết vội từ chiến trường
Em nhận được còn vương mùi khói súng ..

Cánh thư xanh chàng viết mưa ướt sủng
Hẹn ngày về sẽ hái một cành hoa
Vùng Tam biên heo hút núi đồi xa
Cài mái tóc người yêu quà tao ngộ…

Em chờ đợi qua hết mùa Phượng trỗ
Những ngày hè nắng đổ ngập đường xưa
Một mình em đếm bước dưới nắng trưa
Nghiên nón lá mỏi mắt đưa mong nhớ

Ngày gặp lại chàng ..không bao giờ nữa ..!
Một sáng buồn em khóc ngất tiễn đưa
Nghe tin anh gục ngã buổi chiều mưa
Hoa rừng dại còn chừa dành về phép …

Anh Lính chiến, ”Tình anh luôn vẫn đẹp ”
Cho dù anh ..lỗi hẹn đã không về
Chiến chinh làm dang dỡ nghĩa phu thê
Xin hãy giữ cành hoa chờ tao ngộ ..

Hẹn em, nếu có kiếp sau


Thuỡ quê hương trong cơn lửa loạn
Tuổi thanh niên lắm nỗi truân chuyên
Chàng sinh viên xếp lại bút nghiên
Mặc áo Lính thay màu áo trắng …

Tình vừa chớm cũng theo số phận
Của người trai vì vận nước non
Uyên ương ước hẹn sắt son
Thề nguyền cố giữ lòng son đợi chờ …

Chiến chinh khói lửa từng giờ
Sông Tương người đứng bên bờ đợi trông
Chinh phu vẫn một tấm lòng
Yêu người chinh phụ, thầm mong ngày về ..

Nhưng Chàng còn nợ nhiêu khê
Nàng chờ mỏi mắt người về thấy đâu ..!
Xa hương trong cơn bể dâu
Thôi rồi ..! Không biết tìm đâu người tình ..

Chàng về tìm lại bóng hình
Người yêu ngày cũ của mình nay đâu?
Biển xanh nay hóa ruộng dâu
Ðường xưa nay đã phủ màu lá rơi ..

Thôi rồi ..! Mỗi đứa một nơi
Từ đây duyên phận số Trời sắp cho
Cầu xin em gặp chuyến đò
Êm xuôi không có sóng to bão bùng…

Chiến binh tàn cuộc não nùng
Quê hương tan tác.. chịu chung số phần!
Sa cơ thất thế tấm thân
Tù đày khổ nhục trăm lần đắng cay

Rồi chàng cũng có một ngày
Rời xa xứ sở đọa đày ra đi
Chiến binh từ giã chinh y
Tha phương viễn xứ xá gì nắng mưa

Bao năm tìm bóng hình xưa
Nối lời ước hẹn còn chưa hôm nào
Trời cao đất rộng làm sao..!
Biết người nay ở nơi nào mà mong?

Một chiều mưa tạt bên song
Tin xa đưa đến ôm lòng quặn đau!
Nàng đi về cõi xa nào…
Bên trời Tây lạnh .. chàng gào khóc ai..!

Em ơi! Duyên phận không may
Kiếp nầy phải chịu đọa đày xa nhau
Hẹn em, nếu có kiếp sau
Tình anh vẫn mãi dạt dào cho em …
Hết

Quê hương bỏ lại bên trời ...


Minh Vũ

Xứ sở nào em bỏ ra đi
Liều mình vượt biển xá chi bão bùng
Trời thương cho đất tạm dung
Sống vui quên kiếp khốn cùng khổ đau

Dẫu rằng không quá sang giàu
Nhưng em thỏa nguyện ước ao làm người
Mong sao đời được yên vui
Tự do hạnh phúc xứ người xa xăm

Ngày đi, em tuổi trăng rằm
Ðến nay tóc đã lăm răm đổi màu
Thời gian trôi vụt qua mau
Tưỡng như là giấc chiêm bao còn hoài…

Quê em ngày đó không may
“Búa liềm” giáng xuống trần ai đoạn trường..!
Cờ đỏ phủ ngập thê lương
Bắc Nam xuôi ngược tìm đường ra khơi

Em vừa tuổi chớm xuân thời
Rưng rưng gạt lệ xa quê đêm Hè
Trăng lên tìm đến chiếc ghe
Mà lòng se thắt ..nặng đè bước chân …

Hôm nay nhớ chuyện xa gần
Buồn vui lẫn lộn bâng khuâng trong lòng
Nửa đời xa xứ nhớ mong
Ðã như kết lại thành dòng tâm tư ...

Viễn phương ngày đó còn như
Chập chờn ẩn hiện quá ư rõ ràng!
Vượt qua biển rộng thênh thang
Cô gái mới lớn bấm gan đổi đời

Quê hương bỏ lại bên trời
Ngày đi câm nín, lệ rơi hai hàng!
Chuyến đò chở khách sang ngang
Cũng buồn lẳng lặng lên đàng trong đêm …